60. Tụng Tạng Sớ
Nguyên văn:
誦藏疏
伏以
淨瓶法水、一滴霑而日月澄清、玉葉性空、半點洒而冥陽利樂、欲得纖塵不染、須憑
大覺能仁。拜疏爲
大南國清化省河中府宋山縣下畔總美觀庄西內甲、兹現住承天府京城內、弟子阮氏遠、法名紅茂、字妙恩、恭詣于西天寺奉
佛修香諷誦經藏、虔祈現前集福延齡、他日徃生樂國、惟日仰干
蓮眼、俯鑒葵情。
言念、弟子阮氏遠法名紅茂字妙恩、乙卯年七月昧日時生、行庚六十六歳、宿生慶幸、獲預人倫、荷二儀覆載之恩、感三寶扶持之德、思無片善、慮有餘愆、今生不植福田、他日將何憑據、由是恭臨梵宇、虔仗禪和、焚解脫之眞香、禮三身之寶相、諷誦
徃生淨土陀羅尼一藏五千四十八徧、加持諸品神咒、集此良因祈增福慧。今則謹具開啟疏章、和南拜奏。
南無十方盡虛空徧法界微塵刹土中過現未來一切三寶座下。
南無千百億化身娑婆敎主本師釋迦牟尼文佛座下。
南無樂邦敎主本師阿彌陀佛座下。
南無龍花敎主本師彌勒尊佛座下。
南無十方三世一切諸佛諸大菩薩座下。
筵奉、護法龍天、伽藍眞宰、歷代祖師、十殿慈王、酆都哲衆、諸位善神、同垂鑒格。
伏願、佛垂護佑、聖降吉祥、俾弟子身躬清吉、命位安寧、此時稱法寶之良因、他日得彌陀之授記。寔賴
佛恩證明。謹疏。
Phiên âm:
TỤNG TẠNG SỚ
Phục dĩ:
Tịnh bình pháp thủy, nhất trích triêm nhi nhật nguyệt trừng thanh; ngọc diệp tánh không, bán điểm sái nhi minh dương lợi lạc; dục đắc tiêm trần bất nhiễm, tu bằng Đại Giác Năng Nhân.
Bái sớ vị: Đại Nam Quốc, Thanh Hóa tỉnh, Hà Trung phủ, Tống Sơn huyện, Hạ Bạn tổng, Mỹ Quán trang, Tây Nội giáp; tư hiện trú Thừa Thiên phủ, Kinh Thành Nội; đệ tử Nguyễn Thị Viễn, Pháp danh Hồng Mậu, tự Diệu Ân, cung nghệ vu Tây Thiên Tự1 phụng Phật tu hương phúng tụng kinh tạng, kiền kỳ hiện tiền tập phước diên linh, tha nhật vãng sanh Lạc Quốc. Duy nhật ngưỡng can Liên Nhãn phủ giám quỳ tình.
Ngôn niệm: Đệ tử Nguyễn Thị Viễn, Pháp danh Hồng Mậu, tự Diệu Ân, Ất Mão niên, thất nguyệt muội nhật thời sanh, hạnh canh lục thập lục tuế, túc sanh khánh hạnh, hoạch dự nhân luân; hà Nhị Nghi2 phú tải chi ân, cảm Tam Bảo phò trì chi đức; tư vô phiến thiện, lự hữu dư khiên; kim sanh bất thực phước điền, tha nhật tương hà bằng cứ. Do thị cung lâm Phạm vũ, kiền trượng Thiền hòa, phần giải thoát chi chơn hương, lễ Tam Thân chi bảo tướng; phúng tụng Vãng Sanh Tịnh Độ Đà La Ni3nhất tạng ngũ thiên tứ thập bát biến, gia trì chư phẩm Thần chú, tập thử lương nhân, kỳ tăng phước huệ. Kim tắc cẩn cụ khai khải sớ chương, hòa nam bái tấu:
Nam Mô Thập Phương Tận Hư Không Biến Pháp Giới Vi Trần Sát Độ Trung Quá Hiện Vị Lai Nhất Thiết Tam Bảo Tòa Hạ.
Nam Mô Thiên Bách Ức Hóa Thân Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Văn Phật Tòa Hạ.
Nam Mô Lạc Bang Giáo Chủ Bổn Sư A Di Đà Phật Tòa Hạ.
Nam Mô Long Hoa Giáo Chủ Bổn Sư Di Lặc Tôn Phật Tòa Hạ.
Nam Mô Thập Phương Tam Thế Nhất Thiết Chư Phật Chư Đại Bồ Tát Tòa Hạ.
Diên phụng: Hộ Pháp Long Thiên, Già Lam Chơn Tể, Lịch Đại Tổ Sư, Thập Điện Từ Vương, Phong Đô Triết Chúng, chư vị thiện thần, đồng thùy giám cách.
Phục nguyện: Phật thùy hộ hựu, Thánh giáng cát tường; tỷ đệ tử thân cung thanh cát, mạng vị an ninh; thử thời xưng Pháp Bảo chi lương nhân, tha nhật đắc Di Đà chi thọ ký. Thật lại Phật ân chứng minh. Cẩn sớ.
Dịch nghĩa:
SỚ TỤNG KINH TẠNG
Cúi nghĩ:
Tịnh Bình nước pháp, một giọt thấm mà tỏa sáng trời trăng; lá ngọc tánh không, nửa chấm tưới mà âm dương lợi lạc; muốn mảy bụi trần chẳng nhiễm, nên nương Đại Giác Năng Nhân.
Lạy Sớ tâu: Việc đệ tử Nguyễn Thị Viễn, Pháp danh Hồng Mậu, tự Diệu Ân, nguyên quán Tây Nội giáp, Mỹ Quán trang, tổng Hạ Bạn, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, nước Đại Nam; hiện trú tại Kinh Thành Nội, phủ Thừa Thiên, kính đến Chùa Tây Thiên thờ Phật tụng kinh tạng, cầu mong hiện tiền góp phước tăng thọ, mai kia vãng sanh Lạc Quốc. Hôm nay ngưỡng trông Liên Nhãn, cúi chứng tấc thành.
Nép nghĩ: Đệ tử Nguyễn Thị Viễn, Pháp danh Hồng Mậu, tự Diệu Ân, sanh giờ ngày không rõ, tháng 7 năm Ất Mão [1855, Tự Đức thứ 4], sáu mươi sáu tuổi, đời trước may mắn, được làm thân người; mang trời đất che chở ơn sâu, cảm Tam Bảo phò trì đức cả; xét chẳng tấc thiện, lo có tội thêm; đời nay ruộng phước chẳng trồng, mai nọ lấy gì nương tựa. Do vậy quay về tự viện, nương sức chúng tăng; xông giải thoát ấy chơn hương, lễ Ba Thân ấy tướng báu; trì tụng Vãng Sanh Tịnh Độ Đà La Ni một tạng năm ngàn bốn mươi tám biến, trì thêm các phẩm thần chú, góp nhân tốt nầy, cầu tăng phước huệ. Nay tất kính đủ khai mở sớ chương, kính thành tâu lạy:
Kính lạy Ba Ngôi Báu Phật Pháp Tăng của quá khứ, hiện tại, tương lai trong cõi nước như vi trần khắp pháp giới cùng tận mười phương hư không, trên tòa chứng giám cho.
Kính lạy đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Văn Phật, Giáo chủ cõi Ta Bà, trăm ngàn ức Hóa thân, trên tòa chứng giám cho.
Kính lạy đức Bổn Sư A Di Đà Phật, Giáo chủ cõi Lạc Bang, dưới tòa chứng giám cho.
Kính lạy đức Bổn Sư Di Lặc Tôn Phật, Giáo chủ cõi Long Hoa, dưới tòa chứng giám cho.
Kính lạy mười phương ba đời tất cả chư Phật, chư Đại Bồ Tát, dưới tòa chứng giám cho.
Cùng xin: Hộ Pháp Trời Rồng, Già Lam chơn tể; các đời Tổ sư, Mười Điện Từ Vương; Phong Đô các chúng, chư vị thiện thần; cùng thương chứng giám.
Cúi mong: Phật thương giúp đỡ, Thánh giáng cát tường; khiến đệ tử thân thể khỏe mạnh, mạng vị an ninh; thời nầy lấy Pháp bảo làm nhân lành, mai nọ được Di Đà thương thọ ký. Ngưỡng lạy ơn Phật chứng minh. Kính dâng sớ.
Chú thích:
- Tây Thiên Tự (西天寺): chùa tọa lạc ở góc Đông Nam của đàn Nam Giao, thuộc địa phận xã Thủy Xuân, giữa một khu rừng thông già, do Hòa Thượng Tâm Tịnh (hay Tâm Tĩnh), thuộc đời 41 dòng Lâm Tế sáng lập năm 1902. Lúc đầu đây chỉ là một thảo am gọi là Thiếu Lâm Trượng Thất. Năm 1904, chùa được xây thêm và đổi thành Thiếu Lâm Tự. Năm 1926, vua Khải Định góp phần trùng kiến và đặt tên là Tây Thiên Phật Cung Tịnh Xá. Năm 1933, vua Bảo Đại ban biển sắc tứ Tây Thiên Di Đà Tự. Chùa hiện còn lưu giữ bình bát của ngài Tâm Tịnh với sáu bức tranh Thập Bát La Hán cỡ lớn, tượng gỗ Huệ Viễn Thiền Sư, người đề xướng pháp môn Tịnh Độ, do một Phật tử mang từ Trung Quốc về cúng, và một bức tượng Phật A Di Đà do vua Khải Định và nhiều Phật tử thời bấy giờ đúc và dâng cúng. Năm 1935, nơi đây là trường Đại Học Phật Giáo do Hòa Thượng Thích Giác Nhiên (sau này là Đệ Nhị Tăng Thống), đệ tử ngài Tâm Tịnh làm Giám Đốc. Hòa Thượng Tâm Tịnh đã có 39 đệ tử đắc pháp, trong đó nổi tiếng nhất ngoài Hòa Thượng Giác Nhiên, Tăng Thống thứ hai của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất; còn có Hòa Thượng Giác Tiên, khai sơn Chùa Trúc Lâm; Hòa Thượng Giác Nguyên, kế vị trụ trì chùa Tây Thiên; Hòa Thượng Giác Thanh (Đôn Hậu), trụ trì chùa Thiên Mụ; Hòa Thượng Giác Hạnh, trụ trì chùa Vạn Phước; Hòa Thượng Giác Hải, khai sơn chùa Giác Lâm; Hòa Thượng Giác Bổn trụ trì chùa Từ Đàm và Từ Quang; Hòa Thượng Giác Ngạn, trụ trì chùa Kim Đài; Hòa Thượng Giác Viên, khai sơn chùa Hồng Khê. (Theo Dư Địa Chí Thừa Thiên-Huế, http://www3.thuathienhue.gov.vn/GeographyBook)
- Nhị Nghi (二儀): hay còn gọi là Lưỡng Nghi (兩儀), gồm trời và đất, hay âm và dương. Trong bài Thiên Địa Phú (天地賦) của Thành Công Tuy (成公綏) có câu: “Hà âm dương chi nan trắc, vĩ Nhị Nghi chi xa khoát (何陰陽之難測、偉二儀之奢闊, Sao âm dương thật khó xét, lớn đất trời quả bao la).” Trong bài thơ Thu Hồ Hành (秋胡行) của Tào Tháo (曹操, 155-220) cũng có đoạn rằng: “Minh minh nhật nguyệt quang, hà sở bất quang chiêu, minh minh nhật nguyệt quang, hà sở bất quang chiêu, Nhị Nghi hợp thánh hóa, quý giả độc nhân phủ (明明日月光、何所不光昭、明明日月光、何所不光昭、二儀合聖化、貴者獨人不, rực rỡ ánh trời trăng, nơi nào không chiếu sáng, rực rỡ ánh trời trăng, nơi nào không chiếu sáng, đất trời hợp hóa thánh, người quý một mình chăng ?).”
- Hay Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú (徃生淨土神呪): còn gọi là Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản Đắc Sanh Tịnh Độ Đà La Ni (抜一切業障根本得生淨土陀羅尼), Vãng Sanh Quyết Định Chơn Ngôn (徃生決定眞言). Câu thần chú nầy được tìm thấy trong Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bổn Đắc Sanh Tịnh Độ Thần Chú (抜一切業障根本得生淨土神呪, Taishō No. 368) do Lưu Tống Cầu Na Bạt Đà La (s: Guṇabhadra, 求那跋陀羅) trùng dịch. Và một số bản có nội dung tương tự với thần chú nầy như Đà La Ni Tập Kinh (陀羅尼集經, Taishō No. 901) do Đường A Địa Cù Đa (阿地瞿多) dịch, Cam Lồ Đà La Ni Chú (甘露陀羅尼呪, Taishō No. 901) do Đường Thật Xoa Nan Đà (s: Śikṣānanda, 實叉難陀) dịch, A Di Đà Phật Thuyết Chú (阿彌陀佛說呪, Taishō No. 369), thất dịch, Phật Thuyết Vô Lượng Công Đức Đà La Ni Kinh (佛說無量功德陀羅尼經, Taishō No. 1317) do Tống Pháp Hiền (法賢) dịch. Nguyên âm Hán ngữ của thần chú nầy là: “Nam mô a di đa bà dạ, đa tha già đa dạ, đa địa dạ tha, a di lợi đô bà tỳ, a di lợi đa, tất đam bà tỳ, a di lợi đa tỳ ca lan đế, a di lợi đa, tỳ ca lan đa, già di nị, già già na, chỉ đa ca lệ, ta bà ha (南無阿彌多婆夜、哆他伽哆夜、哆地夜哆、阿彌利都婆毗、阿彌利哆、悉眈婆毗、阿彌利哆毗迦蘭諦、阿彌利哆、毗迦蘭哆、伽彌膩、伽伽那、枳多迦棣、娑婆訶).” Căn cứ vào bộ Trung Hoa Phật Giáo Bách Khoa Toàn Thư (中華佛敎百科全書, bản điện tử) cũng như Hán Phạn-Phạn Hán Đà La Ni Dụng Ngữ Dụng Cú Từ Điển (漢梵、梵漢陀羅尼用語用句辭典, Nhà xuất bản Hoa Vũ [華宇出版社], Đài Loan, 1985) của tác giả người Đức là Robert Heineman, Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú được chuyển sang tiếng Sanskrit như sau: “namo amitabhaya, tathagataya, tad yatha, amrta bhave, amrta siddhambhave, amrta vikrmte, amrta vikrmta gamine, gagana kirti kare, svaha”; và được dịch là: “Con xin quy mạng đức Phật Vô Lượng Quang, đấng Như Lai, liền thuyết chú rằng: đấng chủ tể Cam Lồ, người thành tựu Cam Lồ, người truyền rưới Cam Lồ, người rưới khắp Cam Lồ, người tuyên dương (Cam Lồ) khắp hư không, thành tựu viên mãn”. Như trong Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bổn Đắc Sanh Tịnh Độ Thần Chú, đức Phật dạy rằng nếu có người thiện nam và thiện nữ trì tụng thần chú nầy thì ngày đêm thường được đức Phật A Di Đà trú trên đỉnh đầu của vị ấy để ủng hộ, không khiến cho các điều oan gia xảy ra, đời hiện tại được sống an ổn, và khi lâm chung theo đó mà được vãng sanh về quốc độ của Ngài. Vì vậy, câu thần chú nầy thường được tụng chung với Thập Chú trong thời công phu khuya của Thiền môn và được dùng trong các buổi lễ cầu siêu.